bệnh viêm đa cơ
Các biểu hiện tổn thương da ở người bệnh viêm bì cơ. 2. Dấu hiệu nhận biết viêm bì cơ. Bệnh viêm bì cơ khởi phát ở bất kỳ lứa tuổi nào, nhưng thường gặp ở lứa tuổi thiếu niên trước 10 tuổi hoặc ở người lớn từ 40-60 tuổi, nếu trên 50 tuổi, bệnh thường
Viêm cơ là bệnh gì? Viêm cơ là tình trạng viêm của các cơ để di chuyển cơ thể của bạn. Một chấn thương, nhiễm trùng hoặc bệnh tự miễn dịch có thể gây ra viêm cơ. Hai loại viêm cơ cụ thể là viêm đa cơ và viêm bì cơ. Viêm đa cơ gây yếu cơ, thường xảy ra ở các cơ
Bệnh viêm đa cơ có thể khiến viêm cơ tim, viêm màng ngoài tim. Trong một số ít trường hợp, suy tim sung huyết và rối loạn nhịp tim có thể tiến triển. Ung thư: Ung thư phổi , vú, bàng quang và bệnh lymphoma không Hodgkin có thể tăng lên ở những bệnh nhân viêm đa cơ, đặc biệt là trong năm đầu tiên sau khi chẩn đoán.
1. Viêm khớp ở người bị viêm đường ruột. Mặc dù viêm khớp thường được đánh giá là căn bệnh của tuổi già nhưng thực tế, ngay cả người trẻ tuổi vẫn có nguy cơ bị viêm khớp từ sớm, đặc biệt nếu họ mắc bệnh IBD.
Bệnh viêm mũi dị ứng là phản ứng của cơ thể để chống lại sự xâm nhập của những chất lạ vào trong đường hô hấp trên, đặc biệt hay gặp vào lúc chuyển mùa (nóng sang lạnh, rét, mưa nhiều). Nếu không được điều trị dứt điểm, bệnh có thể gây nhiều biến chứng.
contoh papan data guru dan pegawai cdr. Viêm cơ, viêm đa cơ và viêm da cơ là các bệnh lý của mô liên kết đặc trưng bởi tình trạng viêm cơ. Các bệnh cơ do viêm vô căn là một nhóm các bệnh tự miễn mạn tính ảnh hưởng chủ yếu đến các cơ ở gốc chi. Các thể bệnh hay gặp nhất là viêm da cơ, viêm đa cơ, bệnh cơ tự miễn hoại tử và viêm cơ thể vùi lẻ tẻ. Tổng quanViêm đa cơ và viêm da cơ là các bệnh lý của mô liên kết đặc trưng bởi tình trạng viêm cơ..Mặc dù bệnh viêm da cơ ảnh hưởng đến da và các cơ, nó cũng ảnh hưởng cả các thành phần khác trong cơ thể như khớp, thực quản, phổi và virus dính líu với các virus sao chép ngược ở người như HIV và HTLV-I, các virus sao chép ngược ở khỉ và các Coxsackievirus Phân loạiCó thể chia các tình trạng viêm da cơ và viêm đa cơ thành 7 phân nhóm nhỏ dựatheo căn nguyênViêm đa cơ vô căn nguyên phát ở người trưởng da cơ vô căn ở người trưởng da cơ hay viêm cơ thanh thiếu niên kèm viêm mạch hoại đa cơ đi kèm các bệnh lý mô liên đa cơ và viêm da cơ liên quan với bệnh lý ác cơ thể vùi IBM.Các thể bệnh viêm cơ khác ví dụ viêm cơ tăng eosinophil, viêm cơ canxi hóa, viêm cơ khu trú, viêm cơ tế bào khổng lồ. Đối tượng nguy cơViêm đa cơ thường xuất hiện ở độ tuổi từ 30-60 tuổi và một đỉnh nhỏ hơn ở khoảng 15 da cơ có thể xuất hiện ở mọi lứa tuổi. Đỉnh tuổi khởi phát ở người trưởng thành vào khoảng 50 tuổi, và đỉnh tuổi khởi phát ở trẻ em tầm khoảng 5-10 da cơ và viêm đa cơ gặp ở nữ nhiều hơn gấp 2 lần so với ở nam. 2. Viêm đa cơ Dấu hiệuBệnh cơ do viêm khởi phát từ vài tuần đến vài tháng và tiến triển từ cơ lan tỏa ưu thế các cơ gốc cơ gốc chi làm người bệnh khó khăn khi đứng lên từ tư thế ngồi trên ghế, khó leo cầu thang, khó khăn khi nâng đồ vật hay khi chải tóc. Mỏi cơ, đau cơ và vọp bẻ cũng có thể hiện ngọn chi không bị ảnh hưởng, và các động tác tinh vi của bàn tay như cài nút áo, viết, điều khiển bàn phím hay chơi piano chỉ bị ảnh hưởng ở giai đoạn trễ của cơ vùng hầu họng gây khó cơ có thể thay đổi từ tuần này qua tuần khác, từ tháng này sang tháng 1/3 bệnh nhân có đau. Không có phát ban ở ghi nhận tiền sử gia đình về các bệnh lý thần kinh cơ, không có bằng chứng của các rối loạn nội tiết hay tiền sử tiếp xúc với các độc chất có thể gây bệnh Triệu chứngViêm đa cơ gây tình trạng yếu cơ. Thường bệnh nhân không than đau, dù có một số ít than nhức cơ và bị vọp cơ gốc chi và không ảnh hưởng cơ ngọn chi cho đến khi bệnh tiến cơ quanh nhãn cầu không bị ảnh hưởng, các cơ vùng mặt chỉ bị ảnh hưởng trong các trường hợp cổ yếu và khó khăn khi giữ đầu thẳng cơ có thể có, còn phản xạ gân cơ, đáp ứng bàn chân gập và cảm giác bình bắp có thể bị đau khi sờ nắn và có thể có cảm giác sần Chẩn đoán cận lâm sàngCreatine kinase CK có thể tăng gấp 50 lần so với giá trị bình thường. CK hiếm khi bình thường khi bệnh đang giai đoạn hoạt động và mức CK thường là một chỉ điểm tốt cho tình trạng hoạt động của 20% bệnh nhân viêm đa cơ có kháng thể anti-Jo-1. Chúng chỉ điểm một tiên lượng xấu với bệnh phổi kẽ xuất hiện trong 1⁄2 các trường hợp.Các men enzyme khác cũng tăng trong viêm đa cơ bao gồm aldolase, SGOT, SGPT và lactate. dehydrogenase LDH. Nếu SGOT cao hơn SGPT, một nguyên nhân do cơ nên được nghĩ đoán được thiết lập dựa trên điện cơ EMG và được khẳng định bằng sinh thiết nguyên ung thư 125 CA 125 và kháng nguyên ung thư 19-9 CA 19-9 có thể là các dấu ấn hữu ích cho nguy cơ bị các bệnh lý ác sát các tự kháng thể như kháng thể đặc hiệu viêm cơ myositis-specific antibody – MSA, các tự kháng thể liên quan viêm cơ myositis-associated autoantibodies – MAA có thể hữu ích trong việc chẩn đoán phân biệt với các tình trạng ác tính tiềm ẩn. Yếu cơ vùng hầu họng gây khó nuốt là một trong những dấu hiệu của viêm đa cơ Chẩn đoán phân biệtViêm đa cơ là một chẩn đoán loại trừ và các chẩn đoán khác cần cân nhắc bao gồmBệnh thần kinh cơ di nội tiết bao gồm nhiễm độc giáp và bệnh hội chứng kém hấp thu, nghiện rượu, ung thư, viêm mạch, bệnh u hạt, sarcoidosis hoặc tiếp xúc với thuốc hay độc tố ảnh hưởng đến cơ. 3. Viêm da cơ Dấu hiệuViêm da cơ ảnh hưởng đến cả trẻ em và người lớn. Kiểu yếu cơ giống như trong bệnh viêm đa cơ, nhưng cũng có những điểm khác nhưPhát triệu chứng toàn thân với sốt, đau khớp, mệt mỏi và sụt cân. Nó có thể giống với xơ cứng bì ở hiện tượng Raynaud và chứng khó bệnh tim có thể gặp bao gồm khiếm khuyết dẫn truyền nhĩ thất, nhịp tim nhanh và bệnh cơ tim giãn và nhiễm trùng đường tiêu thể yếu các cơ ngực nhưng cũng có thể có bệnh phổi kẽ ở 30-50% trường em có khuynh hướng có nhiều đặc điểm không liên quan cơ hơn, đặc biệt là loét và nhiễm trùng đường tiêu Triệu chứngPhát ban bao gồm hồng ban màu xanh tím ở mí mắt trên với phù quanh hốc mắt, phát ban đỏ vùng mặt, thân trên và các mảng vảy màu đỏ tím ở mặt duỗi của các khớp và ngón tay. Viêm loét mạch máu và vôi hóa mô dưới da có thể xảy ban có thể ảnh hưởng đến đầu gối, vai, lưng và ngực trên, và cũng có thể bị trầm trọng hơn bởi ánh sáng mặt tổn thương da có thể tạo vảy, tăng hoặc giảm sắc tố da và làm da trở nên sáng các cuộn mao mạch ở giường móng là đặc điểm điển hình của viêm da cơ. Các lớp biểu bì có thể không đều và dày lên, mặt lòng bàn tay và mặt bên của ngón tay có thể trở nên thô và cơ gốc chi và có thể thay đổi từ nhẹ đến trầm trọng. Cảm giác được bảo tồn và phản xạ gân cơ bình thường, trừ khi có teo cơ đau cơ và đau có khuynh hướng xuất hiện Chẩn đoán cận lâm sàngMức độ tăng creatine kinase CK là không đáng tin cậy mặc dù nó có thể tăng rất SGPT, LDH, và aldolase cũng có thể tự kháng thểKháng thể kháng nhân antinuclear antibody – ANA dương tính hay gặp ở các bệnh nhân viêm da thể Anti-Mi-2 là kháng thể đặc hiệu cho viêm da cơ nhưng chỉ tìm thấy ở 25% các trường kháng thể Anti-Jo-1 hay gặp ở bệnh nhân viêm đa cơ hơn ở bệnh nhân viêm da cơ. Chúng có liên quan với bệnh phổi kẽ, hiện tượng Raynaud và viêm không giúp ích nhiều cho chẩn đoán nhưng có thể giúp theo dõi bệnh và hướng dẫn chọn vị trí tốt để làm sinh thiết cơ có thể có ích, nhưng 15% trường hợp có thể có điện cơ bình thường. Điện cơ cũng có thể hướng dẫn chọn vị trí phù hợp để làm sinh thiết thiết cơ có thể giúp chẩn đoán Chẩn đoán phân biệtViêm da cơ dễ chẩn đoán hơn vì phát ban và vôi hóa dưới da là điển bệnh lupus ban đỏ hệ thống SLE, da trên các đốt ngón bị ảnh hưởng và da trên khớp bàn ngón không bị. Trong viêm da cơ thì ngược da cơ có thể trùng lặp với bệnh xơ cứng hệ thống, viêm khớp dạng thấp và hội chứng Sjogren nhưng yếu cơ nhiều Các bệnh liên quanViêm đa cơ và viêm da cơ có thể liên quan đến các bệnh tự miễn khác như nhược cơ, viêm giáp Hashimoto, xơ cứng hệ thống và bệnh tăng globulin đại phân tử các trường hợp viêm đa cơ và cả viêm da cơ, có thể cần phải tìm kiếm một khối u ác tính tiềm đa cơ và đặc biệt là viêm da cơ có thể là một phần của hội chứng cận ung paraneoplastic.Từ 10% đến 20% bệnh nhân bị viêm da cơ có u tân nhân cao tuổi bị viêm da cơ thường có khối u ác thư vú, ung thư phổi, ung thư biểu mô buồng trứng và ung thư biểu mô dạ dày thường liên quan Sinh thiết cơ có thể giúp chẩn đoán chính xác bệnh viêm da cơ Điều trịCác điều trị không dùng thuốcNên sử dụng kem chống khích hoạt động thể chất với mục đích duy trì sức cơ, bệnh nhân nên được tư vấn bởi một nhà vật lý trị liệu và hoạt động trị nhân nên được đánh giá chức năng nuốt và một nhà trị liệu ngôn ngữ và lời nói có thể giúp khắc phục những khó khăn khi dõi creatine kinase CK và đáp ứng lâm sàng, nhưng có khi điều trị có thể cải thiện mức CK mà không cải thiện lâm thuốcMặc dù các liệu pháp ức chế miễn dịch và điều hòa miễn dịch thường xuyên được sử dụng, chế độ điều trị tối ưu vẫn chưa rõ ràng. Thiếu các nghiên cứu chất lượng cao đánh giá hiệu quả và độc tính của thuốc ức chế miễn dịch trong viêm cơ. Bắt đầu điều trị sớm là điều cần là loại thuốc quan trọng nhất. Trong trường hợp nhẹ, có thể chỉ cần dùng steroid tại chỗ. Trong trường hợp bệnh nặng hơn, cần sử dụng steroid toàn thân liều cao và giảm liều dần. Sự cải thiện thường rõ ràng vào tháng thứ hai hoặc thứ ba. Các biện pháp phòng ngừa thông thường phải được thực hiện khi sử dụng steroid liều cao trong thời gian tác nhân sinh học bao gồm các chất đối vận alpha yếu tố hoại tử mô, immunoglobulin và rituximab tiêm tĩnh mạch, đã được sử dụng với các mức độ thành công khác nhau để điều trị viêm da cơ. Bệnh nhân có kháng thể chống Jo-1 cần ức chế miễn dịch lâu dài. Đối với bệnh phổi, chế độ phối hợp tích cực bao gồm cyclosporin A hoặc tacrolimus với cyclophosphamide được khuyến cáo nên thêm vào cùng trên kết quả phân tích của nhiều thử nghiệm lâm sàng trên thế giới, ý kiến các chuyên gia, Trung tâm bệnh cơ Châu Á và Châu đại dương AOMC đã đưa ra một số khuyến cáo điều trị như sauLựa chọn hàng thứ nhất chọn hàng thứ hai azathioprine, methotrexate, mycophenolate mofetil. Có thể khởi đầu cùng lúc với steroid hoặc khởi đầu khi thất bại với steroid sau 2-4 chọn hàng thứ ba cyclophosphamide, tacrolimus, lựa chọn khácIVIG một số trường hợp được dùng như một lựa chọn điều trị đầu tay, một số khác thì được lựa chọn điều trị khi thất bại với steroid hay viêm cơ tái huyết tương, Rituximab cũng là các lựa chọn điều trị trong viêm cơ tái phát. Thuốc Steroid là loại thuốc quan trọng nhất được lựa chọn hàng thứ nhất trong điều trị bệnh viêm cơ, viêm đa cơ, viêm da cơ Biến chứngLoét đường tiêu hóa có thể gây ra tiêu phân đen, ói máu. Nhồi máu ruột có thể xảy ra, đặc biệt là trong viêm da da cơ có thể gây vôi hóa dưới da làm loét da, nhiễm trùng và sẹo viêm da cơ và viêm đa cơ đều có liên quan đến tăng nguy cơ ác da cơ cũng liên quan đến khuyết tật nhĩ thất, nhịp tim nhanh, bệnh cơ tim giãn nở, co rút khớp và liên quan đến phổi do yếu cơ ngực, bệnh phổi kẽ.Các biến chứng khác của viêm đa cơ bao gồmBệnh phổi kẽ, viêm phổi do hítCác block dẫn truyền ở tim, rối loạn nhịp tim, suy tim sung huyết, viêm màng ngoài tim, nhồi máu cơ thở, kém hấp chứng của liệu pháp steroid – ví dụ như loãng xương, bệnh cơ do Tiên lượngTiên lượng của các bệnh cơ do viêm vô căn rất thay liên quan đến bệnh lý ác tính cho thấy tiên lượng phục hồi kém và tăng khả năng tử vong. Nhìn chung, tự thoái lui mà không dùng thuốc là rất hiếm, ngoại trừ thể viêm da cơ thanh thiếu nghiên cứu cho thấy chỉ 20% đến 40% các bệnh nhân viêm da cơ và viêm đa cơ được điều trị sẽ thoái lui bệnh, trong khi 60-80% sẽ tái phát nhiều lần hoặc tiếp diễn mạn lệ tử vong cao gấp 2-3 lần so với dân số chung. Ung thư, biến chứng phổi, tim và nhiễm trùng là các nguyên nhân tử vong thường gặp nhất. Các yếu tố tiên lượng xấu gồm tuổi, giới nam, người da màu, tiến trình bệnh kéo dài, có triệu chứng tim, có nuốt khó, có bệnh lý ác tính và có các kháng thể đặc hiệu viêm cơ myositis-specific antibodies trong huyết thanh bao gồm các kháng thể anti-Ro52 và anti-Jo1 cùng tồn tại, sự hiện diện của kháng thể anti signal recognition particle, anti-155/140, và anti-CADM-140.Kháng thể anti-155/140 có liên quan đến tình trạng ác tại ở Việt Nam đã có thể làm đầy đủ các xét nghiệm chẩn đoán bệnh viêm đa cơ và viêm da cơ, kể cả sinh thiết cơ và các xét nghiệm tìm kháng thể. Các phương pháp điều trị bệnh đã được công nhận trên thế giới cũng như các thuốc mới được khuyến cáo dựa theo vài nghiên cứu gần đây cũng đã được chúng ta bước đầu sử dụng để điều trị những trường hợp bệnh viêm đa cơ, viêm da cơ nặng và kháng thuốc. Tuy viêm da cơ và viêm đa cơ là các thể bệnh có thể điều trị được nhưng việc điều trị bệnh còn rất nhiều khó viện Đa khoa Quốc tế Vinmec là một trong những bệnh viện không những đảm bảo chất lượng chuyên môn với đội ngũ y bác sĩ, hệ thống trang thiết bị công nghệ hiện đại mà còn nổi bật với dịch vụ khám, tư vấn và chữa bệnh toàn diện, chuyên nghiệp; không gian khám chữa bệnh văn minh, lịch sự, an toàn và tiệt trùng tối đa. Để đặt lịch khám tại viện, Quý khách vui lòng bấm số HOTLINE hoặc đặt lịch trực tiếp TẠI ĐÂY. Tải và đặt lịch khám tự động trên ứng dụng MyVinmec để quản lý, theo dõi lịch và đặt hẹn mọi lúc mọi nơi ngay trên ứng dụng. XEM THÊM Bệnh viêm đa cơ dermatomyositis Chẩn đoán, điều trị Công dụng thuốc nhỏ mắt Sanlein Thuốc HCQ trong điều trị da liễu
1. Chẩn đoán bệnh viêm đa cơ Chẩn đoán xác định Tiêu chuẩn chẩn đoán của Tanimoto và cộng sự năm 1995. Tiêu chuẩn này có độ nhạy 98,9% và độ đặc hiệu 95,2% Chẩn đoán xác định bệnh viêm đa cơ khi có ít nhất 4 trong 8 triệu chứng sau Đau cơ do viêm gây nên hoặc đau có tính chất tự phát; Yếu cơ vùng gốc chi; Tăng nồng độ CK creatinine kinase trong huyết thanh hoặc aldolase; Điện cơ có các hiện tượng biến đổi nguồn gốc cơ thời gian ngắn, đơn vị vận động nhiều pha với các rung giật tự phát; Khi sinh thiết cơ xuất hiện hình ảnh thâm nhiễm cơ vân kèm theo dấu hiệu thoái hóa và hoại tử sợi cơ thực bào hoạt động, nhân trung tâm hoặc có các bằng chứng hoạt động; Viêm khớp không có hình ảnh bị bào mòn trên X quang, không có hủy khớp hoặc đau khớp; Các triệu chứng toàn thân sốt nhẹ trên 370 C, CRP tăng hoặc tốc độ máu lắng tăng > 20 mm/h bằng phương pháp Westergren; Kháng thể kháng Jo-1 dương tính; Tiêu chuẩn chẩn đoán bệnh viêm đa cơ của Bohan và Peter năm 1975, gồm 5 yếu tố Yếu cơ vùng gốc chi hai bên đối xứng; Sinh thiết cơ thấy xuất hiện triệu chứng của bệnh viêm cơ; Men cơ trong huyết thanh tăng; Điện cơ có dấu hiệu của viêm cơ Tổn thương ở da điển hình của bệnh cơ do viêm ban Gottron, ban màu đỏ hoặc tím ở vùng mi mắt, ban đỏ hình chữ V ở cổ và ngực, bàn tay thợ cơ khí. Chẩn đoán xác định viêm đa cơ Chẩn đoán chắc chắn viêm đa cơ khi có tất cả 4 yếu tố đầu tiên. Chẩn đoán gần như chắc chắn viêm đa cơ khi có 3/4 yếu tố đầu tiên Chẩn đoán nghi ngờ viêm đa cơ khi có 2/4 yếu tố đầu tiên” Chẩn đoán phân biệt Bệnh viêm đa cơ đôi khi phải chẩn đoán phân biệt với các tình trạng bệnh lý có gây biểu hiện yếu cơ Yếu cơ mạn tính hoặc bán cấp nguyên nhân do các bệnh lý thần kinh tổn thương tủy, xơ hóa cột bên, loạn dưỡng cơ, nhược cơ… Các dấu hiệu thần kinh vận động, điện cơ và sinh thiết cơ có thể giúp chẩn đoán phân biệt bệnh viêm đa cơ v ới các tình trạng bệnh lý này. Yếu cơ cấp tính trong các bệnh viêm đa cơ hội chứng Guillain-Barré, viêm tủy cắt ngang, nhiễm độc thần kinh, viêm cơ do virus. Ở các bệnh lý này thường có dấu hiệu co rút cơ, khai thác tiền sử, khám cảm giác, các xét nghiệm độc tố và vi sinh có thể giúp chẩn đoán phân biệt. Yếu cơ do thuốc Khai thác kỹ biểu hiện lâm sàng bệnh viêm đa cơ đặc biệt tiền sử dùng thuốc có thể giúp chẩn đoán phân biệt. Yếu cơ do nguyên nhân đau cơ, đau khớp trong một số bệnh lý đau cơ do thấp, viêm khớp có thể gây yếu cơ. Thăm khám lâm sàng, các xét nghiệm về viêm, miễn dịch đặc biệt kết quả sinh thiết cơ bình thường giúp chẩn đoán phân biệt bệnh. Yếu cơ trong các bệnh lý nội tiết và chuyển hóa như cường hoặc suy tuyến giáp, cường vỏ thượng thận. Chẩn đoán phân biệt viêm đa cơ dựa vào các kết quả xét nghiệm học môn nội tiết. 2. Điều trị bệnh viêm đa cơ Nguyên tắc điều trị bệnh viêm đa cơ Điều trị thuốc kết hợp với phục hồi chức năng cơ. Kết hợp corticoid và các thuốc điều trị cơ bản methotrexat hoặc azathioprin trong các thể thông thường hoặc cyclophosphamid trong các thể kháng điều trị hoặc có tổn thương phổi kẽ. Kết hợp truyền tĩnh mạch immunoglobulin có hiệu quả tuy giá thành cao. Phòng tránh các biến chứng do thuốc. Khảo sát các bệnh ung thư kết hợp, đặc biệt ung thư cơ quan sinh dục ở nữ. Điều trị bằng thuốc Corticoid là thuốc điều trị chính trong bệnh viêm đa cơ, thường kết hợp với những thuốc điều trị cơ bản DMARD. Corticoid đường uống, với liều khởi đầu 1-2 mg/kg/ngày, dùng 1 lần/ngày hoặc chia 3- 4 lần/ngày nếu dùng 1 lần/ngày không kiểm soát được bệnh. Duy trì liều cao đến khi các triệu chứng lâm sàng của bệnh thuyên giảm và nồng độ enzym CK trong huyết thanh giảm trở về mức bình thường, trung bình khoảng 6- 8 tuần. Sau đó giảm liều dần, điều trị liều duy trì trung bình 5- 10mg/ngày. Corticoid truyền tĩnh mạch liều cao truyền tĩnh mạch mỗi ngày mg x 3 ngày. Chỉ định khi viêm đa cơ nặng, tiến triển cấp tính, có tổn thương tim mạch hoặc viêm phổi kẽ nặng. Corticoid đường uống được sử dụng điều trị bệnh Các thuốc điều trị cơ bản DMARD thường kết hợp với corticoid trong điều trị bệnh viêm đa cơ. Nhóm này bao gồm methotrexate, azathioprine, cyclophosphamide. Methotrexate Chỉ định các thể viêm đa cơ thông thường. Liều dùng Dùng đường uống, liều 7,5- 15mg mỗi tuần tuần, có thể tăng liều lên đến 20mg mỗi tuần tùy theo đáp ứng của bệnh nhân. Ít tác dụng không mong muốn suy tế bào gan, suy tủy xương, viêm phổi. Hàng tháng cần theo dõi tế bào máu ngoại vi và enzym gan khi dùng thuốc kéo dài. Azathioprine Chỉ định khi không đáp ứng với điều trị với Methotrexat. Liều dùng Dùng đường uống với liều khởi đầu 1,5- 2mg/kg/ngày, liều trung bình 150- 200mg/ngày. Giảm liều khi các triệu chứng lâm sàng thuyên giảm. Cyclophosphamide Chỉ định trong các thể kháng điều trị với methotrexat hoặc azathioprin hoặc trong trường hợp có tổn thương phổi kẽ. Liều dùng mỗi tháng một lần truyền tĩnh mạch liều 500mg- 1000 mg; trong 6 tháng liên tục; tiếp theo, có thể duy trì 03 tháng một liều như trên. Có thể dùng thuốc theo đường uống với liều dùng 1- 2 mg/kg/ngày, liều tối đa 150 mg/ngày song nguy cơ ung thư bàng quang tăng. Tác dụng không mong muốn viêm bàng quang chảy máu, suy tế bào gan, suy tủy xương, rụng tóc, cảm giác nóng bừng ở đầu trong thời gian truyền. Thuốc tiêm Cyclophosphamide Các biện pháp khác Truyền tĩnh mạch immunoglobulin IVIG Chỉ định điều trị hỗ trợ trong trường hợp viêm đa cơ nặng, không đáp ứng với các phác đồ thông thường. Kết hợp với phương pháp điều trị nêu trên. Liều dùng 1-2 g/kg/ngày, chia truyền từ 2-5 ngày mỗi 04 tuần. Ngừng truyền khi các triệu chứng của bệnh được cải thiện. Lọc huyết tương Plasmapheresis Chỉ định điều trị hỗ trợ trong trường hợp viêm đa cơ nặng. Kết hợp với các biện pháp điều trị nêu trên. Viêm đa cơ gây ra những thương tổn ở da và cơ cho người bệnh đồng thời gây ra nhiều biến chứng nguy hiểm nếu không được điều trị kịp thời. Để quá trình điều trị đạt được hiệu quả cao, bạn nên thăm khám và phát hiện bệnh sớm. Vậy bạn có biết những số liệu sau nói về bệnh nào không? Hơn 70% người phát hiện bệnh khi ở giai đoạn muộn Điều trị ở giai đoạn khởi phát, tỷ lệ thành công là 30% Điều trị ở giai đoạn cuối, tỷ lệ thành công chỉ là 2 – 4% Tầm soát sức khỏe thường xuyên giúp đánh giá toàn diện các hệ cơ quan và phát hiện sớm nguy cơ ung thư! Thay vì bỏ ra hàng chục, hàng trăm triệu để điều trị, dành ra chi phí nhỏ nhưng được bảo vệ sức khỏe toàn diện, bạn có muốn? ✅ Dịch vụ thành lập công ty ⭕ ACC cung cấp dịch vụ thành lập công ty/ thành lập doanh nghiệp trọn vẹn chuyên nghiệp đến quý khách hàng toàn quốc ✅ Đăng ký giấy phép kinh doanh ⭐ Thủ tục bắt buộc phải thực hiện để cá nhân, tổ chức được phép tiến hành hoạt động kinh doanh của mình ✅ Dịch vụ ly hôn ⭕ Với nhiều năm kinh nghiệm trong lĩnh vực tư vấn ly hôn, chúng tôi tin tưởng rằng có thể hỗ trợ và giúp đỡ bạn ✅ Dịch vụ kế toán ⭐ Với trình độ chuyên môn rất cao về kế toán và thuế sẽ đảm bảo thực hiện báo cáo đúng quy định pháp luật ✅ Dịch vụ kiểm toán ⭕ Đảm bảo cung cấp chất lượng dịch vụ tốt và đưa ra những giải pháp cho doanh nghiệp để tối ưu hoạt động sản xuất kinh doanh hay các hoạt động khác ✅ Dịch vụ làm hộ chiếu ⭕ Giúp bạn rút ngắn thời gian nhận hộ chiếu, hỗ trợ khách hàng các dịch vụ liên quan và cam kết bảo mật thông tin
Ngày 9/6, Bệnh viện Trung ương Huế cho biết, sau một tuần điều trị tích cực, họ đã cứu sống bệnh nhi Trương Phúc Gia H 11 tuổi, trú TP Huế, Thừa Thiên - Huế bị viêm cơ tim tối cấp có biến chứng sốc đó, chiều 30/5, bệnh nhi H được đưa đến Khoa Hồi sức tích cực - Cấp cứu Nhi trong tình trạng đau ở vùng sau xương ức, điện tâm đồ có hình ảnh rối loạn nhịp thất, thiếu máu cơ tim, xét nghiệm phản ánh cơ tim bị tổn thăm khám, các bác sĩ chẩn đoán cháu bé bị viêm cơ tim tối cấp, nguy cơ tử vong rất cao. Ngay sau đó, bệnh nhân được điều trị nội khoa tích cực theo hướng viêm cơ tim tối cấp và được dõi sát chức năng nhi bị sốc tim may mắn được các bác sĩ cứu thoát "cửa tử"Sau một ngày điều trị, bệnh diễn tiến nặng hơn, xuất hiện rung thất, giảm tri giác, vô mạch, các bác sĩ đã tiến hành hồi sức tim phổi, sốc điện hai lần và sử dụng thuốc chống loạn nhịp thất đường tĩnh mạch, tình trạng rối loạn nhịp thất vẫn còn, bệnh tiếp tục xuất hiện sốc huyết áp tụt, vô mạch, không có nước tiểu, chức năng co bóp cơ tim giảm nặng còn 32%.Xác định đây là một trường hợp sốc tim do viêm cơ tim tối cấp có rung thất, nguy cơ tử vong cao nếu không chỉ định kỹ thuật hỗ trợ tuần hoàn ngoài cơ thể. Các bác sĩ Nhi đã khẩn trương hội chẩn liên chuyên khoa toàn viện để đưa ra phương án tối ưu hội chẩn, bệnh nhân được tiến hành ngay kỹ thuật oxy hóa qua màng ngoài cơ thể hỗ trợ tuần hoàn VA-ECMO kết hợp thở máy xâm nhập và điều trị nội khoa tích 6 ngày điều trị, chức năng co bóp của tim cải thiện, chỉ số phản ảnh tổn thương cơ tim giảm, các thông số chức năng sống và chức năng tim cải thiện, bệnh nhân được ngưng hỗ trợ VA-ECMO và cai thở bệnh nhi đã tỉnh táo, môi hồng, các thông số chức năng sống được cải thiệnHiện tại bệnh nhi H tỉnh táo, tiếp xúc tốt, uống được sữa, ăn cháo, mạch và huyết áp ổn định, không còn thở oxy và đang được các bác sĩ tiếp tục chăm sóc, theo dõi, dự kiến được ra viện trong đầu tuần Phạm Như Hiệp - Giám đốc Bệnh viện Trung ương Huế cho biết "Kỹ thuật VA-ECMO đã được các bác sĩ Bệnh viện Trung ương Huế thực hiện thành công đầu tiên tại Việt Nam vào tháng 03/2009, chủ yếu trong hồi sức cho bệnh nhân viêm cơ tim, sốc tim sau phẫu thuật tim mạch. Hiện nay VA-ECMO là kỹ thuật hỗ trợ tim và phổi giúp cứu sống cho rất nhiều bệnh nhân nguy kịch, không đáp ứng với các điều trị thông thường; giúp tim và phổi nghỉ ngơi và chờ thời gian hồi phục".
Viêm cơ tự miễn dịch được đặc trưng bởi các tổn thương viêm và thoái hóa ở cơ viêm đa cơ, bệnh cơ qua trung gian miễn dịch hoại tử hoặc ở da và cơ viêm da cơ. Các biểu hiện bao gồm yếu cơ đối xứng 2 bên, có thể kèm theo đau cơ, và tổ chức xơ thay thế tổ chức cơ, có thể có teo cơ, chủ yếu là tổn thương các cơ ở vùng gốc chi. Chẩn đoán dựa trên các triệu chứng lâm sàng và các bất thường về xét nghiệm về cơ bao gồm xét nghiệm creatine kinase, chụp MRI, điện cơ và sinh thiết cơ. Một số loại viêm cơ có biểu hiện ở phổi và tim. Điều trị bằng corticosteroid kết hợp với các thuốc ức chế miễn dịch và/hoặc truyền tĩnh mạch globulin miễn cơ tự miễn thường gặp ở nữ nhiều hơn nam với tỷ lệ 21. Tỷ lệ mắc bệnh ở người Da đen cao gấp 3 đến 4 lần so với người Da trắng. Bệnh có thể gặp ở bất kỳ lứa tuổi nào nhưng thường xảy ra nhất ở tuổi 40-60, hoặc ở trẻ em từ 5-15 tuổi. Thay đổi mô bệnh học bao gồm tổn thương và teo tế bào cơ, với nhiều mức độ viêm khác nhau. Các cơ ở bàn tay, bàn chân và mặt ít bị ảnh hưởng hơn so các nhóm cơ khác của hệ thống vận động. Tổn thương của các cơ ở vùng hầu họng và thự quản trên và đôi khi của cơ tim có thể gây giảm chức năng của các cơ quan đó. Tình trạng viêm có thể xảy ra ở các khớp và phổi, đặc biệt ở những bệnh nhân có kháng thể kháng da cơ có đặc trưng bởi sự lắng đọng các phức hợp miễn dịch ở mạch máu và được coi là một bệnh lý mạch máu qua trung gian bổ thể. Ngược lại, viêm đa cơ được đặc trưng bởi tổn thương cơ trực tiếp qua trung gian tế bào T, và bệnh cơ hoại tử qua trung gian miễn dịch được đặc trưng bởi thâm nhiễm chiếm ưu thế đại thực bào và bệnh thực bào cơ. Viêm cơ tự miễn có thể được phân thành 4 nhóm, chủ yếu dựa trên mô bệnh học và triệu chứng lâm sàng Viêm đa cơViêm da cơBệnh lý cơ hoại tử qua trung gian miễn dịchViêm cơ thể vùi Viêm da cơ có thể được phân biệt với viêm đa cơ bằng các dấu hiệu da đặc trưng của viêm da cơxem Triệu chứng và Dấu hiệu Triệu chứng và Dấu hiệu Viêm cơ tự miễn dịch được đặc trưng bởi các tổn thương viêm và thoái hóa ở cơ viêm đa cơ, bệnh cơ qua trung gian miễn dịch hoại tử hoặc ở da và cơ viêm da cơ. Các biểu hiện bao gồm yếu cơ... đọc thêm . Hình ảnh mô bệnh học cơ cũng khác nhau. Viêm da cơ và viêm đa cơ có thể biểu hiện như các bệnh cơ đơn thuần hoặc như một phần của hội chứng kháng synthetase có thể liên quan đến viêm khớp thường là viêm khớp không bào mòn, sốt, bệnh phổi kẽ Tổng quan về bệnh phổi kẽ Bệnh phổi kẽ là một nhóm rối loạn không đồng nhất được đặc trưng bởi sự dày lên của vách phế nang, tăng sinh bào nguyên bào sợi, sự lắng đọng collagen, và nếu quá trình này vẫn không được kiểm... đọc thêm , tăng sinh keratin ở bên quay của các ngón tay bàn tay của người thợ cơ khí và Hội chứng Raynaud Hội chứng Raynaud Hội chứng Raynaud là sự co thắt mạch của bàn tay khi gặp lạnh hoặc stress tâm lý, gây khó chịu và thay đổi màu sắc nhợt, xanh, ban đỏ hoặc kết hợp ở một hay nhiều ngón tay. Thỉnh thoảng, các... đọc thêm .Viêm cơ toàn thân gây yếu cơ ở phần gần của chân, nhưng thường liên quan đến các cơ ở phần xa ví dụ cơ bàn tay và bàn chân thường kèm theo teo cơ. Bệnh phát triển ở độ tuổi lớn hơn, tiến triển chậm hơn và thường không đáp ứng với liệu pháp ức chế miễn dịch. Các triệu chứng và dấu hiệu của bệnh viêm cơ tự miễn dịch Khởi phát của bệnh viêm cơ tự miễn có thể là cấp tính đặc biệt ở trẻ em hoặc âm thầm đặc biệt ở người lớn. Đau nhiều khớp, hội chứng Raynaud Hội chứng Raynaud Hội chứng Raynaud là sự co thắt mạch của bàn tay khi gặp lạnh hoặc stress tâm lý, gây khó chịu và thay đổi màu sắc nhợt, xanh, ban đỏ hoặc kết hợp ở một hay nhiều ngón tay. Thỉnh thoảng, các... đọc thêm , khó nuốt Khó nuốt Khó nuốt là tình trạng khó khăn khi nuốt. Tình trạng này xuất phát từ quá trình vận chuyển đồ lỏng, đồ đặc, hoặc cả hai từ họng đến dạ dày bị đình trệ. Không nên nhầm lẫn khó nuốt với cảm giác... đọc thêm , triệu chứng phổi ho, khó thở và các triệu chứng toàn thân sốt cao, mệt mỏi, gầy sút cân cũng có thể có. Các dấu hiệu tiên lượng nặng bao gồm khó nuốt, khàn tiếng, và/hoặc yếu cơ cơ có thể tiến triển trong vài tuần tới vài tháng. Tuy nhiên, phải tới khi 50% số lượng sợi cơ bị phá hủy mới gây ra triệu chứng yếu cơ ví dụ, yếu cơ cho thấy tình trạng viêm cơ đang tiến triển. Bệnh nhân có thể khó khăn khi nâng cánh tay cao lên trên vai, leo lên bậc thang, hoặc đứng lên từ vị trí ngồi. Đôi khi có triệu chứng đau cơ và teo cơ. Bệnh nhân có thể cần phải sử dụng xe lăn hoặc nằm liệt giường vì yếu cơ vùng đai chậu và đai vai. Các cơ gập cổ có thể bị ảnh hưởng nặng, làm cho bệnh nhân không thể nhấc đầu lên khỏi gối. Yếu các cơ vùng hầu họng và thực quản trên có thể dẫn đến khó nuột và gây sặc. Các cơ của bàn tay, bàn chân và mặt không bị ảnh hưởng, ngoại trừ trong bệnh viêm cơ thể vùi trong bệnh này biểu hiện tổn thương ở các cơ ngọn chi, đặc trưng là các cơ ở bàn tay. Co rút chân tay hiếm khi phát hiện khớp bao gồm đau đa khớp hoặc viêm đa khớp có sưng và các đặc điểm khác của viêm khớp không biến dạng. Hay gặp hơn trong thể có kháng thể kháng Jo-1 hoặc các kháng thể kháng synthetase khác. Tổn thương nội tạng ngoại trừ vùng hầu họng và thực quản trên ít gặp hơn trong viêm cơ tự miễn khi so với các bệnh lý khớp khác ví dụ như lupus ban đỏ hệ thống Lupus ban đỏ hệ thống SLE Lupus ban đỏ hệ thống là một bệnh lý viêm tự miễn mạn tính có biểu hiện bệnh ở nhiều hệ cơ quan, xảy ra chủ yếu ở phụ nữ trẻ tuổi. Các biểu hiện phổ biến có thể bao gồm đau khớp và viêm khớp... đọc thêm , xơ cứng bì hệ thống Xơ cứng bì toàn thể Xơ cứng bì toàn thể là bệnh mạn tính hiếm gặp chưa rõ nguyên nhân được đặc trưng bởi xơ hóa lan tỏa và tổn thương mạch ở da, khớp và các cơ quan nội tạng đặc biệt là thực quản, đường tiêu hóa... đọc thêm . Đôi khi, đặc biệt là ở những bệnh nhân có kháng thể kháng synthetase, bệnh phổi kẽ Tổng quan về bệnh phổi kẽ Bệnh phổi kẽ là một nhóm rối loạn không đồng nhất được đặc trưng bởi sự dày lên của vách phế nang, tăng sinh bào nguyên bào sợi, sự lắng đọng collagen, và nếu quá trình này vẫn không được kiểm... đọc thêm biểu hiện bằng khó thở và ho là biểu hiện nổi bật nhất. Rối loạn nhịp tim, đặc biệt là rối loạn dẫn truyền hoặc rối loạn chức năng tâm thất, có thể xảy ra. Triệu chứng tiêu hóa, hay gặp hơn ở trẻ em, là do viêm mạch máu và có thể bao gồm đau bụng, nôn máu, phân đen, và thủng ruột do thiếu đổi da, ở bệnh viêm da cơ, bao gồm các ban sẫm màu và hồng ban. Nhạy cảm với ánh nắng mặt trời và loét da cũng có thể gặp. Phù quanh hốc mắt với xuất hiện ban màu đỏ tím heliotrope rash tương đối đặc hiệu cho viêm da cơ. Ở những vùng khác, ban ngoài da có thể hơi gồ cao và mịn hoặc có vẩy; nó có thể xuất hiện ở trán, vùng chữ V ở cổ và vai, ngực và lưng, cẳng tay và cẳng chân, mặt ngoài đùi, khuỷu tay và khớp gối, mắt cá trong, và mặt mu của các khớp ngón gần và khớp bàn ngón tay sẩn Gottron – một trong các tổn thương da khá đặc hiệu. Vùng nến móng và cạnh móng có thể dày lên. Viêm da bóc vảy với nứt da có thể có ở mặt quay của các ngón tay. Lắng đọng canxi dưới da và cơ có thể gặp, đặc biệt ở trẻ em. Các tổn thương da nguyên phát thường khỏi hoàn toàn nhưng có thể để lại các tổn thương thứ phát ví dụ, sắc tố màu nâu, teo, tân mạch dai dẳng, sẹo. Ban tổn thương trên da đầu có thể giống như vảy nến và ngứa. Những thay đổi đặc trưng của da có thể xảy ra trong trường hợp không có bệnh về cơ, trong trường hợp đó, bệnh được gọi là viêm da cơ không di căn. Tiêu chuẩn lâm sàngSinh thiết cơ bắt buộcNên nghi ngờ viêm cơ tự miễn ở những bệnh nhân có yếu cơ vùng gốc chi kèm theo hoặc không có cứng cơ. Nên nghi ngờ viêm da cơ ở các bệnh nhân có triệu chứng của viêm cơ và những tổn thương da phù hợp với viêm da cơ. Để chẩn đoán viêm cơ tự miễn, yêu cầu có càng nhiều yếu tố trong 5 yếu tố sau Yếu cơ vùng gầnBan trên da đặc trưngTăng các men cơ trong huyết thanh nếu không tăng creatine kinase [CK], xét đến các men aminotranferase hoặc aldolase ít đặc hiệu hơn CK rất nhiềuĐiện cơ hoặc MRI có bất thường về cơThay đổi trên sinh thiết cơ xét nghiệm có giá trị xác định chẩn đoánĐể tăng độ nhạy của kết quả sinh thiết, mẫu sinh thiết phải được lấy từ cơ có một hoặc nhiều đặc điểm sau Có yếu cơ khi khám lâm sàngBiểu hiện phù cơ được xác định trên cơ đối xưng được phát hiện bất thường trên điện xét nghiệm có thể thay đổi tăng hoặc giảm tương ứng với các rối loạn nghi ngờ, cho phép đánh giá mức độ nặng, xác định các trường hợp chồng lấp và phát hiện các biến chứng. Nên kiểm tra các kháng thể. Kháng thể kháng nhân ANA dương tính ở 80% bệnh nhân. Nếu xét nghiệm ANA dương tính, xét nghiệm thêm cho các loại kháng thể cụ thể là rất quan trọng trong việc làm tăng nghi ngờ về một hội chứng chồng lấp. Các biểu hiện và diễn biến lâm sàng thường liên quan với các kháng thể đặc hiệu được mô tả trong . Mối liên hệ giữa các tự kháng thể này và sinh bệnh học còn chưa rõ ràng, mặc dù kháng thể kháng Jo-1 là chất chỉ điểm đặc hiệu cho tổn thương viêm phổi kẽ, viêm khớp và hội chứng Raynaud. Không có kháng thể đặc hiệu cho viêm đa cơ. Bằng chứng về việc tăng nguy cơ ung thư là tương đối mạnh đối với viêm da cơ và ít mạnh hơn đối với viêm đa cơ. Do đó, cần sàng lọc ung thư ở bệnh nhân ≥ 40 tuổi bị viêm da cơ hoặc bệnh nhân ≥ 60 tuổi bị viêm đa cơ vì những bệnh nhân này thường có các bệnh ung thư mà bác sĩ ít nghĩ tới. Sàng lọc phải bao gồm khám lâm sàng vú, khung chậu và trực tràng với xét nghiệm máu; công thức máu toàn phần, xét nghiệm sinh hóa, chụp vú, phân tích nước tiểu, chụp X-quang phổi; và các xét nghiệm cần thiết khác dựa trên tuổi của bệnh nhân. Các thăm dò bổ sung khác dựa trên bệnh sử và kết quả khám lâm sàng. Một số khuyến cáo chụp CT ngực, bụng và khung chậu, nội soi đại tràng, đặc biệt ở bệnh nhân viêm da cơ. Không cần thiết phải sàng lọc ở bệnh nhân trẻ tuổi không có các triệu chứng ung thư. Lui bệnh trong thời gian dài thậm chí đạt được khỏi bệnh gặp ở 50% bệnh nhân dược điều trị trong vòng 5 năm, thường gặp hơn ở trẻ em. Tuy nhiên, tái phát có thể xảy ra bất cứ lúc nào. Tỷ lệ sống sau 5 năm là 75% và cao hơn ở trẻ em. Tử vong ở người lớn là do các yếu tố viêm cơ nặng và tiến triển, khó nuốt, suy dinh dưỡng, suy hô hấp do nhiễm trung phổi. Tử vong ở trẻ bị viêm da cơ thể có thể do viêm mạch ở ruột. Viêm da cơ và viêm đa cơ thường có liên quan với tăng nguy cơ ung thư. Ung thư, nếu có, thường xác định tiên lượng tổng thể. CorticosteroidThuốc ức chế miễn dịch ví dụ, methotrexate, azathioprine, mycophenolate mofetil, rituximab, tacrolimusTruyền globulin miễn dịchGiảm thiểu các hoạt động thể chất cho đến khi kiểm soát được viêm. Corticosteroid là thuốc được lựa chọn ban đầu. Đối với bệnh cấp tính, liều điều trị cho người lớn là prednisone 1 mg/kg thường khoảng 40 đến 60 mg lần một lần/ngày. Đối với những trường hợp bệnh nặng có khó nuốt hoặc yếu cơ hô hấp, điều trị thường bắt đầu với corticosteroid liều cao ví dụ, methylprednisolone 0,5 đến 1 g truyền tĩnh mạch một lần/ngày trong 3 đến 5 ngày. Các phép đo tuần tự của creatine kinase CK cung cấp hướng dẫn ban đầu tốt nhất về hiệu quả điều trị. Tuy nhiên, ở những bệnh nhân bị teo cơ lan tỏa, nồng độ CK có thể ở mức bình thường mặc dù có viêm cơ mạn tính, hoạt động. Tổn thương cơ trên MRI hoặc nồng độ CK cao thường có thể giúp phân biệt viêm cơ với bệnh lý cơ do corticosteroid. Aldolase là một xét nghiệm thay thế, mặc dù nó ít đặc hiệu hơn CK nhưng đôi khi có thể dương tính ở những bệnh nhân viêm cơ có nồng độ CK bình thường. Khi nồng độ enzyme giảm xuống hoặc đạt mức bình thường ở nhiều bệnh nhân trong 6 đến 12 tuần, sau đó là sức bền cơ bắp được cải thiện, liều corticosteroid có thể giảm dần. Nếu nồng độ men cơ tăng trở lại, liều corticosteroid thường được tăng lên trong khi chờ đợi tác dụng đầy đủ của các loại thuốc khác. Mục tiêu tổng thể là nhanh chóng loại bỏ tình trạng viêm nhưng giảm thiểu việc tiếp xúc với corticosteroid trong thời gian dài, đó là lý do tại sao thuốc thứ hai thường là methotrexate, tacrolimus hoặc azathioprine là thuốc không corticosteroid bước đầu được bắt đầu dùng cùng lúc với corticosteroid hoặc ngay sau đó để prednisone có thể được giảm dần đến liều tối đa 5 mg mỗi ngày, lý tưởng nhất là trong khoảng 6 tháng. Globulin miễn dịch tiêm tĩnh mạch là một lựa chọn tốt cho những bệnh nhân không đáp ứng nhanh với liệu pháp, phát triển các biến chứng nhiễm trùng với corticosteroid liều cao và các chất ức chế miễn dịch khác, hoặc những người đang hóa trị liệu. Một số chuyên gia có thể kết hợp 3 thuốc ở những bệnh nhân nặng hoặc khi có độc tính corticosteroid. Trẻ em cần liều điều trị liều prednisone ban đầu từ 30 đến 60 mg/m2 một lần một ngày. Đôi khi, bệnh nhân được điều trị với corticosteroid liều cao kéo dài có thể tăng yếu cơ sau đáp ứng ban đầu vì có thể mắc bệnh lý cơ chồng lấp, không đau do corticosteroid. Ở những bệnh nhân này, CK vẫn bình thường mặc cơ yếu cơ liên quan với ung thư thường kháng trị với corticosteroid. Viêm cơ liên quan đến ung thư có thể đạt được lui bệnh nếu khối u được lấy đi. Những người có bệnh tự miễn thường có nguy cơ cao bị chứng xơ vữa động mạch Chẩn đoán Xơ vữa động mạch được đặc trưng bởi các mảng bám nội mạc mảng xơ vữa xâm lấn vào lòng các động mạch cỡ trung bình và lớn. Các mảng chứa lipid, tế bào viêm, tế bào cơ trơn và mô liên kết. Các... đọc thêm và cần được theo dõi chặt chẽ. Bệnh nhân điều trị corticosteroid kéo dài nên được dự phòng loãng xương Phòng ngừa Loãng xương là bệnh xương chuyển hóa tiến triển làm giảm mật độ chất khoáng trong xương khối lượng xương trên một đơn vị thể tích, kèm suy giảm cấu trúc xương. Xương yếu dẫn đến gãy xương... đọc thêm . Nếu sử dụng liệu pháp ức chế miễn dịch kết hợp, bệnh nhân nên được điều trị dự phòng nhiễm trùng cơ hội, chẳng hạn như Pneumocystis jirovecii xem phòng ngừa viêm phổi do Pneumocystis jirovecii Phòng ngừa Pneumocystis jirovecii là nguyên nhân phổ biến của viêm phổi ở những bệnh nhân bị ức chế miễn dịch, đặc biệt là ở những người bị nhiễm vi rút gây suy giảm miễn dịch ở người HIV và ở... đọc thêm và vắc-xin chống nhiễm trùng thông thường ví dụ viêm phổi liên cầu Tổng quan về Viêm phổi Viêm phổi là tình trạng viêm cấp tính của phổi do nhiễm trùng. Chẩn đoán ban đầu thường dựa trên chụp X-quang phổi và các dấu hiệu lâm sàng. Nguyên nhân, triệu chứng, điều trị, các biện pháp... đọc thêm , cúm Cúm Cúm là một bệnh nhiễm trùng hô hấp do vi rút gây sốt, sổ mũi, ho, đau đầu và mệt mỏi. Tỷ lệ tử vong có thể xảy ra trong các đợt dịch bộc phát theo mùa, đặc biệt là ở những bệnh nhân có nguy... đọc thêm , COVID-19 Vắc-xin phòng COVID-19 Vắc xin COVID-19 cung cấp sự bảo vệ chống lại COVID-19, căn bệnh do nhiễm vi rút SARS-CoV-2 gây ra. Tiêm vắc xin là chiến lược hiệu quả nhất để ngăn ngừa bệnh nặng và tử vong do nhiễm SARS-CoV-2... đọc thêm . Yếu cơ do viêm cơ thường gặp ở các cơ gốc tím quanh hốc mắt và sẩn Gottron là tổn thương đặc hiệu cho viêm da thiết lập chẩn đoán, hãy tìm phát ban đặc trưng, yếu cơ, tăng nồng độ creatine kinase và thay đổi cơ trên điện cơ đồ hoặc MRI. Ngoại trừ bệnh nhân có những tổn thương da đặc trưng, phải làm sinh thiết cơ để xác định chẩn xét sàng lọc ung thư ở bệnh nhân ≥ 40 tuổi bị viêm da cơ và bệnh nhân ≥ 60 tuổi bị viêm đa trị bằng corticosteroid và các thuốc ức chế miễn dịch khác.
Viêm đa cơ là gì? Viêm đa cơ là nhóm bệnh tự miễn với tổn thương chính là tình trạng viêm mạn tính của các bó cơ vân với biểu hiện đặc trưng là yếu cơ vùng gốc chi đối xứng hai bên có kèm tăng các men cơ xương. Viêm đa cơ kèm theo có tổn thương da thì gọi là bệnh Viêm da – cơ hay viêm bì cơ. Ngoài tổn thương ở cơ hoặc kèm theo da, các bệnh nhân thường có biểu hiện khác ở gối, phổi, tim mạch, tiêu hóa. Ở người già, viêm đa cơ và viêm da – cơ có tỷ lệ kết hợp với bệnh ung thư cao hơn và ngược lại ung thư biểu hiện như viêm da – cơ. Bệnh viêm đa cơ và viêm da – cơ thuộc nhóm bệnh tự miễn nên còn gọi là Viêm đa cơ tự miễn với nguyên nhân hiện nay vẫn chưa được biết rõ. Nhiều nghiên cứu chỉ ra rằng bệnh còn có xu hướng tiến triển theo mùa trong năm và có liên quan đến kháng thể tự miễn và các yếu tố di truyền Ngoài ra, các tác nhân như yếu tố môi trường, các tác nhân gây nhiễm trùng như vi khuẩn, virus, các loại thuốc cũng được xem là nguyên nhân gây bệnh. Khi người bệnh đến khám chuyên khoa, bác sĩ sẽ kết hợp giữa biểu hiện lâm sàng của người bệnh và hỏi bệnh. Sau khi khám xong, bác sĩ sẽ hướng dẫn người bệnh thực hiện các xét nghiệm chuyên khoa như Xét nghiệm máu phát hiện các enzym cơ trong huyết thanh tăng cao như CK, GOT, GPT... ngoài ra còn có kháng thể kháng nhân dương tính, gặp các kháng thể đặc hiệu với viêm cơ tự miễn trong cơ thể. Điện cơ cho thấy các hình ảnh điện thế phức tạp, biên độ thấp, yếu cơ, cơ dễ bị kích thích. Sinh thiết cơ thấy hình ảnh bất thường của cơ, có xâm lấn, thoái hóa và hoại tử, Có xuất hiện teo các tổ chức xung quanh, theo tiến triển bệnh sẽ dẫn đến việc các tổ chức xơ thay thế các tổ chức cơ bị hoại tử làm chia tách bó cơ. Sinh thiết da cho kết quả thâm nhiễm, teo da, thoái hóa các tổ chức của da. Kiểm tra bằng kỹ thuật chẩn đoán hình ảnh, chụp CT, đo chức năng hô hấp giúp cho việc xác định tổn thương và xâm lấn để có biện pháp điều trị đạt kết quả cao. Triệu chứng của viêm đa cơ và viêm da – cơ thường diễn biến từ từ trong vài tuần hoặc vài tháng nên rất khó phát hiện sớm. Bệnh nhân có biểu hiện mệt mỏi, sút cân đặc biệt khi kết hợp với bệnh ung thư. Các triệu chứng biểu hiện như Cơ Bệnh nhân có biểu hiện đau cơ, xơ hóa cơ gây tình trạng co rút cơ, hạn chế vận động các khớp; yếu vùng cơ gốc chi, đối xứng hai bên; yếu cơ vùng hầu họng gây nên tình trạng khó ăn, khó nuốt, nói tiếng bị khàn; yếu cơ vùng liên sườn dẫn đến tình trạng người bệnh khó thở và cuối cùng sẽ dấn đến teo cơ... Da Dấu hiệu quan trọng trong bệnh viêm da – cơ là tổn thương da gồm có các dát màu đỏ tím, có vảy. Ở giai đoạn tiến triển, có thể teo da, tăng hoặc giảm sắc tố, xuất hiện các ban đỏ, giãn mao mạch ở xung quanh móng tay. Khớp Xuất hiện đau khớp hoặc viêm khớp thường gặp ở các khớp nhỏ của bàn tay, cổ tay nhưng không gây biến dạng khớp. Lắng đọng calci ở da và các tổ chức. Bệnh nhân có thể sờ thấy các hạt cứng chắc hoặc nhìn thấy các hạt màu trắng khi tổn thương ở lớp nông. Calci hóa sẽ gây ra tình trạng vận động kém của khớp. Các biểu hiện khác Bệnh nhân xuất hiện tình trạng khó thở, xơ phổi, viêm phổi và tràn dịch. Ngoài ra còn có các bệnh lý về thận, hội chứng thận hư, các bệnh lý ung thư kèm theo tuy nhiên các trường hợp này hiếm gặp Viêm đa cơ, viêm da – cơ thường gặp ở trẻ em trong độ tuổi từ 10 – 15 tuổi và người lớn tuổi từ 45 – 60 tuổi, một vài trường hợp có ghi nhận mắc phải ở trẻ em dưới 10 tuổi. Bệnh phổ biến ở người da đen hơn người da trắng và phụ nữ tỷ lệ mắc bệnh cao hơn đàn ông. Hiện nay chưa có bất kỳ biện pháp nào giúp phòng ngừa bệnh viêm đa cơ, viêm da – cơ. Người bệnh khi có các biểu hiện cần đi khám bệnh sớm tại các chuyên khoa để được chẩn đoán và điều trị tốt nhất. Khi người bệnh đến khám chuyên khoa, bác sĩ sẽ kết hợp giữa biểu hiện lâm sàng của người bệnh và hỏi bệnh. Sau khi khám xong, bác sĩ sẽ hướng dẫn người bệnh thực hiện các xét nghiệm chuyên khoa như Xét nghiệm máu phát hiện các enzym cơ trong huyết thanh tăng cao như CK, GOT, GPT... ngoài ra còn có kháng thể kháng nhân dương tính, gặp các kháng thể đặc hiệu với viêm cơ tự miễn trong cơ thể. Điện cơ cho thấy các hình ảnh điện thế phức tạp, biên độ thấp, yếu cơ, cơ dễ bị kích thích. Sinh thiết cơ thấy hình ảnh bất thường của cơ, có xâm lấn, thoái hóa và hoại tử, Có xuất hiện teo các tổ chức xung quanh, theo tiến triển bệnh sẽ dẫn đến việc các tổ chức xơ thay thế các tổ chức cơ bị hoại tử làm chia tách bó cơ. Sinh thiết da cho kết quả thâm nhiễm, teo da, thoái hóa các tổ chức của da. Kiểm tra bằng kỹ thuật chẩn đoán hình ảnh, chụp CT, đo chức năng hô hấp giúp cho việc xác định tổn thương và xâm lấn để có biện pháp điều trị đạt kết quả cao. Việc phát hiện và điều trị bệnh rất quan trọng, điều trị bệnh sớm hiệu quả càng cao và ít biến chứng. Các biện pháp điều trị hiện nay thường sử dụng như Điều trị thuốc theo chỉ định của bác sĩ Điều trị bằng Corticoid kết hợp với các thuốc điều trị khác theo chỉ định. Không tự ý dùng thuốc khi chưa được sự đồng ý của bác sĩ. Việc dùng thuốc bừa bãi không những không điều trị được bệnh mà còn tăng nguy cơ vi khuẩn kháng thuốc làm thất bại trong việc điều trị. Lọc huyết tươngtrong trường hợp bệnh tiến triển nặng, điều trị thuốc không đáp ứng. Tập vật lý trị liệu tùy theo mức độ nghiêm trọng của bệnh và theo chỉ định của bác sĩ. Xem thêm Viêm cơ, áp xe cơ Nguyên nhân, triệu chứng, chẩn đoán và điều trị Viêm khớp Nguyên nhân, triệu chứng, chẩn đoán và điều trị Viêm cơ tim Nguyên nhân, triệu chứng, chẩn đoán và điều trị
bệnh viêm đa cơ